Pivot point toàn tập

Pivot point toàn tập

17/01/2012

Chào,

 

Có lẽ không cần giải thích công thức tính toán các điểm xoay Pivot, chúng ta đi thằng vào vấn đề .

 

Đầu tiên, Pivot là công cụ phổ biến, được cộng đồng Trader sử dụng nên có thể gây ảnh hưởng lớn đến các điểm nhạy cảm. Hiểu đơn giản là giá quay đầu tại một mức cản chỉ khi số lượng lớn Tradercùng hành động như nhau tại một thời điểm.

Đa số các Server giao dịch theo giờ EST nên mỗi sáng vào lúc 7:00 điểm Pivot được Update cho ngày ngày mới . Lưu ý : Điểm cản theo Pivot có thể chênh lệch ở các Flatform khác nhau .

 

Description: http://1.bp.blogspot.com/-E-OmLBRwEZg/TxUwxmIeImI/AAAAAAAAEzo/njhZkUAuR4U/s1600/pivot15_pic0+tradingsignal+gold+forex.png

 

Pivot đóng vai trò điểm cân bằng giá sau mỗi đợt sóng, tương tự như 2 đường Kijun trong biểu đồ Ichimoku. Đầu ngày khi giá mở cửa trên mức Pivot gợi ý xu hướng tăng tiếp tục được duy trì và ngược lại. Với giá khởi điểm gần Pivot vào Phiên Á thì điểm vào hợp lý tại Pivot, nếu ngày hôm trước biến động mạnh thì hôm sau biên độ Pivot và các cản S / R cũng cách xa nhau, khi đó có thể cân nhắc mua/bán gần Pivot. 

 

Khi điểm Pivot bị " hooked ", thị trường cứ đi quanh quẩn Pivot theo đồ thị hình Sin thì Pivot bị vô hiệu hóa, cản hiệu quả nhất là kênh ngang theo xu hướng Sideway 

Description: http://1.bp.blogspot.com/-2MF_BUPbEP0/TxUzr0wBUhI/AAAAAAAAEzw/G-f2K5LumYw/s1600/pivot+n%25C3%25B3nence.png

Chủ đề này sẽ gợi ý cách xác định điểm vào và thoát với Pivot, ai sử dụng Pivot thì tham khảo để hoàn thiện nguyên tắc giao dịch cho riêng mình, Nếu đang sử dụng Indicator khác để xác định cản thì có thể bỏ qua bài này vì chèn cùng lúc nhiều công cụ tính toán cản sẽ dễ bị phân tâm.  

 

Phân tích kỹ thuật với Pivot như sau :

 

Đầu tiên, quan sát vị trí mở cửa ( Trên hay dưới Pivot ), Khi nằm trên và gần Pivot ( Khoảng cách gần mang tính tương đối, theo kinh nghiệm thì địa thế an toàn khi giá mở cửa gần Pivot hơn so với các mức cản S/R.

Ví dụ : Thị trường mở cửa trên Pivot và gần khu vực Pivot như dưới đây, chúng ta sẽ đợi điều chỉnh về Pivot xem có duy trì được cản tâm lý này không. Khi điều chỉnh về ngay Pivot thì cũng không cần đoán sẽ trụ lại hay Breakout, tiếp tục chờ đợi, tìm kiếm tín hiệu đảo chiều .

 

Description: http://4.bp.blogspot.com/-cC1t3NhnUK4/TxU1ZEOSdOI/AAAAAAAAEz4/SDiGq1oBcaU/s1600/pivot15_pic0+tradingsignal+gold+forex+xauusd+guide+huong+dan.png

 

Lực bán yếu đi khi tốc độ giảm bị chặn lại, độ cao nến giảm chứng tỏ số đông cân nhắc trạng thái lệnh đang mở. Bạn có thể quan sát trên các biểu đồ ngắn như 15 phút . 

 

Description: http://3.bp.blogspot.com/-VrQ_axehtLs/TxU3Wz5OMXI/AAAAAAAAE0A/t8SlQKoFzpY/s1600/pivot15_pic0+tradingsignal+gold+forex+xauusd+guide+huong+dan.png

 

Nến giảm biến mất và khởi đầu với nến tăng mới tại hỗ trợ cho thấy đa số đang tận dụng cơ hội ngắn hạn để scalping và đấy là thời điểm ta tấn công . Đặt lệnh mua ở thời điểm hiện tại, cắt lỗ dưới đáy cặp nến đôi. Khi trời yên biển lặng thì Stoploss khoảng 30-40 pip, lúc dậy sóng thì Stoploss cao hơn. 

 

Description: http://1.bp.blogspot.com/-d2BzJihfRSA/TxU5PondIPI/AAAAAAAAE0I/m8RS-bN5rNQ/s1600/pivot15_pic0+tradingsignal+gold+forex+xauusd+guide+huong+dan.png

 

Sau khi bật lên một đoạn thị trường công phá Pivot lần nữa nhưng thất bại, thông thường, cản mạnh khi được test ít nhất 2 lần và đều bật lên theo hình chữ V hoặc xuất hiện Nến đảo chiều . Kì này thị trường đã đi một mạch lên mục tiêu lợi nhuận R1 . Tại điểm R1, đóng cửa nến tạo mô hình hammer khá nguy hiểm. Nếu nến kế tiếp tăng vượt R1 thì tiếp tục đà tăng mạnh. Đối với Trader cận có thể đợi nến kế tiếp để xác nhận. 

 

Tương tự khi chạm Pivot, thị trường đã phản ứng khi tiếp cận R1 và tạo Nến đảo chiều , có thể vào Lệnh SELL tại đây, Stoploss trên đỉnh nến đảo chiều khoảng 30-40 pip, Mục tiêu đầu tiên khi đánh lướt sóng = 1/2 đoạn từ Pivot - R1

 

Description: http://4.bp.blogspot.com/-TnlvStwHQq8/TxU-pw9gCMI/AAAAAAAAE0Y/8U8sgt2dD0s/s1600/pivot15_pic0+tradingsignal+gold+forex+xauusd+guide+huong+dan.png

 

Phân Loại Các Broker Trên Thế Giới

18/09/2011

 

Description: phan_loai_forex_broker_forex_gold

Trước khi đi sâu tìm hiểu từng loại hình Broker, tôi muốn giới thiệu với các bạn một số thuật ngữ thường dùng để mô tả các loại hình Brokers hiện có, nhằm giúp bạn dễ đánh giá và nhìn nhận loại hình broker mà bạn đang giao dịch là loại nào.

Dealing Desk:

Là loại broker thực hiện lệnh của bạn thông qua điểm nhận lệnh và báo mức Spread đã được ấn định trước. Dealing Desk broker thu lợi nhuận từ các mức Spread đã được họ ấn định trước, đồng thời họ còn giao dịch ngược lệnh & đối trọng với khách hàng.
Những DD broker này được gọi là market maker – người làm giá. Họ đích thị là người làm giá, tạo thị trường cho khách hàng, ví dụ như khi bạn muốn đặt lệnh bán, họ sẽ mua vào, khi bạn muốn đặt lệnh mua, hó sẽ bán. Do đó, họ luôn thực hiện lệnh đối trọng với khách hàng, và vì vật họ tự”tạo thị trường”.
 
Do đó,bạn sẽ chẳng bao giờ thấy được mức giá thật sự của thị trường, và vì vậy là cơ hội cho các broker này thao túng thị trường, tự làm giá….để khớp lệnh khách hàng của họ. 

NDD — No Dealing Desk — NDD Forex brokers này sẽ giúp các lệnh giao dịch của bạn đi thẳng trực tiếp vào thị trường liên ngân hàngmà không phải qua dealing desk báo giá. Những broker NDD thật sự, sẽ không có chuyện “báo giá lại – requotes” cho các lệnh giao dịch của bạn, và tính chất khớp lệnh & xác nhận lệnh rất nhanh, không bị trì hoãn như DD broker. Và điều đặc biệt nữa là cho phép bạn giao dịch theo tin, không hạn chế.

NDD broker có thể hoặc tính phí hoa hồng giao dịch(rất thấp)và giữ nguyên spread của thị trường liên ngân hàng, hoặc tăng Spread, không tính phí hoa hồng.
No Dealing Desk brokers bao gồm cả 2 loại. vừa là STP hay ECN+STP.
 
Các bạn xem hình minh họa bên dưới: 

Description: phan_loai_forex_broker

STP — Straight Through Processing

>>STP Forex brokers nghĩa là những broker này sẽ gởi lệnh trực tiếp của khách hàng trực tiếp lên hệ thống các nhà cung cấp thanh khoản – như các ngân hàng – cũng giao dịch như khách hàng trên hệ thống liên ngân hàng – Interbank. Đôi khi các STP broker chỉ có duy nhất một nhà cung cấp thanh khoản, nhưng có khi có nhiều hơn. Càng có nhiều ngân hàng và thanh khoản trong hệ thống, lệnh của khách hàng càng dễ khớp với giá tốt hơns.
Nhưng điều quan trọng là bạn có thể giao dịch trực tiếp và thật sự trên thị trường mà không phải bị can thiệp bởi broker.
 

ECN — Electronic Communications Network — ECN Forex brokers cũng giống như STP, nhưng ngoài ra còn cho phép lệnh giao dịch của bạn có thể tương tác với các lệnh của khách hàng khác.

Description: dang-ki-tai-khoan-giao-dichECN Forex broker tạo ra thị trường, là nơi các thành phần tham gia giao dịch(như các ngân hàng, market maker, các nhà đầu tư) giao dịch đối ứng với nhau, với các mưc bid/ask rất cạnh tranh trong hệ thống. Vì các thành phần tham gia tương tác với nhau trong hệ thống, do đó sẽ có được mức giá rất rẻ, và tất cả các lệnh giao dịch được khớp thật sự giữa các bên. Tuy nhiên, những broker này cũng có thể tính phí hoa hồng đối với các lệnh giao dịch của bạn(nhưng rất rẻ).
Description: dang-ki-tai-khoan-giao-dich
 Đôi khi các STP broker nói họ cũng là dạng ECN broker, nhưng thực tế là một ECN broker thật sự thì phần mềm giao dịch của họ phải thể hiện các mức thị trường(Depth of the market – DOM). Ví dụ level I hay level II, nhằm giúp khách hàng thể hiện khối lượng giao dịch của họ trong hệ thống, đồng thời cho phép những khách hàng khác khớp các lệnh này.
Với ECN broker, bạn có thể thấy tính thanh khoản và các lệnh được thực hiện trên thị trường.

Phân tích kỹ thuật vàng-forex bằng công cụ Fibonacci

14/01/2012

Phân tích kỹ thuật sử dụng Fibonacci là phưong pháp nhận biết các mức cản và hỗ trợ tiềm năng trong tương lai dựa trên xu hướng giá và sự đảo chiều trong quá khứ. Phương pháp phân tích sử dụng Fibonacci dựa trên những khám phá về toán học của Leonardo Pinaso. Tên tuổi của ông gắn liền với việc khám phá dãy số được biết dưới tên gọi: dãy số Fibonacci.

Dãy số Fibonacci là một dãy số diễn biến như sau: 0,1,1,2,3,5,8,13,21,34,55,… Để biết được con số tiếp theo của dãy số, bạn chỉ cần tiến hành một phép tính đơn giản là cộng hai con số đứng trước nó.

Hàm ý bên trong của dãy số Fibonacci không phải là bản thân các con số mà là mối liên hệ giữa các con số, tỷ lệ này được tạo ra bằng nhiều con số khác nhau trong dãy số. Tỷ lệ quan trọng nhất được xác định là tỷ lệ 1.618 được gọi là “tỷ lệ thần thánh”. Tỷ lệ này có thể được tìm thấy trong tự nhiên.

Tỷ lệ thần thánh này và những tỷ lệ khác tồn tại trong dãy số Fibonacci đại diện cho sự suy tàn và sự hưng thịnh của cuộc sống. Nó cũng được áp dụng trong thị trường ngoại hối khi đại diện cho sự hưng thịnh và suy tàn của thị trường ngoại hối.
Trong phần này, bạn sẽ được biết về các tỷ lệ trong dãy số Fibonacci có thể được ứng dụng trong thị trường ngoại hối theo những công cụ phân tích sau:

Fibonacci Retracements

Khi một cặp đồng tiền bắt đầu đảo chiều xu hướng, một cách rất tự nhiên người đầu tư trên thị trường sẽ muốn biết được cặp đồng tiền sẽ dịch chuyển trong xu hướng mới này trong bao lâu. Những đường Fibonacci nằm ngang này sẽ giúp bạn xác định điều đó.

Những tỷ lệ này bạn sẽ sử dụng trong giao dịch ngoại hối để giúp bạn tìm ra những mức nằm ngang sau:

61.8%: Mức này được xác định bằng cách chia một con số trong dãy số cho một con số theo ngay sau nó trong dãy số.
38.2%: Mức này được xác định bằng cách chia một con số trong dãy số cho con số đứng trước cách nó một con số trong dãy số.
23.6%: Mức này được xác định bằng cách chia một con số trong dãy số cho con số đứng trước cách nó hai con số trong dãy số.

Bạn sẽ sử dụng ba mức Fibonacci trong phân tích hồi giá của bạn. Trong khi đó, những mức sau đây không được tính toán từ những con số của dãy số Fibonacci mà từ các mức của Fibonacci ở trên.

50%: Đây là mức được xác định bằng cách tính trung bình của mức 61.8% và 38.2%.
76.4%: Đây là mức được xác định bằng cách cộng chênh lệch dương giữa mức 38.2% và 23.6 với mức 61.8%.
100%: Mức này đơn giản được xác định từ nới xu hướng trước đó bắt đầu.

Việc xác định tất cả sáu mức hồi giá Fibonacci cung cấp cho bạn các mức kháng cự và hỗ trợ mà bạn có thể sử dụng trong giao dịch ngoại hối. Bạn có thể xem các mức Fibonacci này trên đồ thị ngày GBP/USD bên dưới. Mỗi mức giá được giả định được tính toán dựa trên xu hướng được xác định bởi những đường màu đỏ. Bạn có thể đã sử dụng mỗi mức này để giúp mình quyết định khi nào thì tham gia và khi nào thì thoát khỏi thị trường khi cặp đồng tiền bắt đầu quay trở lại và dịch chuyển xuống thấp. 

 

Description: http://1.bp.blogspot.com/-5q43AyZgAUk/TzoePsZrrmI/AAAAAAAAFeg/-lI4Ldv3kjk/s1600/fibonacci.bmp

 Xu hướng giá không bao giờ lên thẳng hoặc xuống thẳng một lúc. Xu hướng giá ban đầu sẽ di chuyển theo 1 chiều, sau đó hồi về và di chuyển theo hướng ngược chiều trong một lúc và sau đó lại quay trở lại và tiếp tục xu hướng ban đầu. Đây là tính chất hồi giá và phát triển của một xu hướng.

Khi một cặp đồng tiền quay trở lại xu hướng ban đầu, các nhà giao dịch ngoại hối muốn biết xu hướng đó sẽ duy trì tới mức giá nào. Các mức giá của Fibonacci projection có thể giúp trả lời câu hỏi này. Các tỷ số Fibonacci rất hữu dụng khi bạn đang cố gắng tìm xem một khi xu hướng giá quay trở lại xu hướng ban đầu thì nó sẽ đạt tới mức giá nào.
Các tỷ số đó gồm có:

161.8 %: mức tỷ số này có được bằng cách chia một số trong dãy số Fibonacci cho số đứng ngay trước nó trong dãy số ( ví dụ: 89/55=161.8%)
261.8 %: mức tỷ số này có được bằng cách chia một số trong dãy số Fibonacci cho số đứng trước nó một số trong dãy số ( ví dụ: 89/34=261.8%)
423.8 %: mức tỷ số này có được bằng cách chia một số trong dãy số Fibonacci cho số đứng trước nó hai số trong dãy số ( ví dụ: 89/21=423.8%)

Xác định ba mức giá trong Fibonacci projection cung cấp cho bạn các mốc kháng cự và hỗ trợ trong giao dịch ngoại hối.
Bạn có thể thấy những mức giá Fibonacci trong đồ thị ngày cặp GBPUSD sau. Mỗi một mức giá biểu thị được tính toán dựa trên xu hướng được vẽ bằng đường màu đỏ trong hình. Như vậy, chúng ta giả định là cặp GBPUSD đang trong xu hướng tăng giá. Bạn có thể sử dụng các mốc này để giúp bạn xác định mức giá nào để quyết định bạn đặt mục tiêu lợi nhuận ( tức là mức giá để bạn ra khỏi trạng thái) khi bạn mua cặp đồng tiền.

 

Description: http://3.bp.blogspot.com/-KoKPOB5SchM/TzoedgbEIjI/AAAAAAAAFeo/7pUI4oGNMwo/s1600/fibanacci+-2.bmp

 Chú ý rằng dựa theo xu hướng này thì cặp GBPUSD có khả năng tăng giá lên mức 161.8% trong ngắn hạn. Nếu nó đụng mức này thì bạn có thể đặt mức 261.8% để làm mức mục tiêu lợi nhuận tiếp theo.

Fibonacci Fans

Các mức tỷ số Fibonacci cung cấp các mức hỗ trợ và kháng cự đường chéo cũng như là mức kháng cự và hỗ trợ đường ngang. Mức hỗ trợ và kháng cự hình xiên dựa trên các tỷ số Fibonacci gọi là Fibonacci Fans.
Fibonacci fan dựa trên ba mức hồi giá Fibonacci (61.8%, 50% và 38.2%). Để xây dựng Fibonacci fan, bạn phải làm các bước sau:

1. Xác định xu hướng
2. Xác định 3 mức giá Fibonacci hàng ngang (61.8%, 50% và 38.2%) liên quan tới xu hướng đã xác định ở trên.
3. Vẽ một đường dọc cắt qua các mức giá này tại điểm mà đường xu hướng này kết thúc
4. Vẽ ba đường, mỗi đường bắt đầu tại nơi mà xu hướng bắt đầu và cắt qua điểm mà đường dọc giao với đường ngang tại các mức giá Fibonacci.

Bây giờ bạn đã vẽ được đường Fibonacci fans, bạn có thể sử dụng chúng để dự phóng cho các mức giá hỗ trợ và kháng cự tiềm năng trong xu hướng giá của các đồng tiền.

Ví dụ, bạn có thể sử dụng Fibonacci fan trên đồ thị GBPUSD sau. Mỗi một mức giá được tính toán dựa trên đường xu hướng vẽ bằng đường màu đỏ trong hình. Bạn có thể sử dụng các tia này để xác định mức giá nào nên vào trạng thái và ra trạng thái khi cặp đồng tiền bắt đầu đảo chiều hay biến động chậm.

 

Description: http://4.bp.blogspot.com/-kxaKGrh6S3k/TzoevHN46tI/AAAAAAAAFew/naKM4iNobmg/s1600/fb+fan.bmp

Chú ý cách mà giá của của cặp đồng tiền giao động quanh đường ở giữa của Fibonacci fan trong một thời gian vào đầu tháng 8 trước khi nó phá qua mức giá đó và bắt đầu đi xuống trong vài ngày sau đó.

Ngoài ra cũng khá thú vị là các mức giá tạo ra bởi Fibonacci fan cũng còn tiếp tục tác dụng trong tương lai xa. Bạn có thể thấy cặp GBPUSD đi xuống sau khi chạm đường Fibonacci fan thứ ba sau bốn tháng vào cuối tháng 11.

 

Có hay không “vàng ảo”?

18/09/2011

 

 

Description: trade_gold_forex_moigioiforex

Tác giả
Trần Trọng Quốc Khanh
Giám đốc Trung tâm Vàng Ngân hàng Á Châu (ACB)

Có hay không “vàng ảo”? 

Hoạt động kinh doanh vàng tài khoản ở nước ngoài đã bị ngừng từ tháng 7/2010. Khái niệm “vàng ảo” chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề và gây ra nhiều ngộ nhận không cần thiết.

Từ khi Việt Nam xuất hiện hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài (2006) và kinh doanh vàng tại các trung tâm giao dịch vàng hay còn gọi là sàn vàng (2007), một số phương tiện truyền thông trong nước thường đề cập đến khái niệm “vàng ảo”.

Tuy nhiên, theo người viết, khái niệm “vàng ảo” chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề và gây ra nhiều ngộ nhận không cần thiết đối với các nhà đầu tư, nhà phân tích, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách.
Nhiều bài viết về thị trường vàng có vẻ thích dùng từ “vàng ảo” (viết nháy trong ngoặc kép). Tuy nhiên, nội dung bài viết thường chỉ mô tả được một vài khía cạnh đơn lẻ trong quy trình kỹ thuật sản phẩm và thiếu góc nhìn toàn cục của hoạt động kinh doanh vàng, rồi đi đến kết luận bằng vài chữ đại loại “như thế là ảo”, hoặc “đó là vàng ảo”. Nói cách khác, một khái niệm mới được nêu ra, nhưng thiếu định nghĩa thấu đáo để có thể thảo luận. 
Cái gọi là “vàng ảo” mà một số bài viết nêu lên thường muốn gắn kết với vàng trên tài khoản. Ngoài ra, còn có một số tình huống ngộ nhận khác cũng bị quy kết là “ảo”. Người viết kỳ vọng, việc phân tích cụ thể ba trường hợp dưới đây - xuất phát từ kinh nghiệm và cơ sở lý luận thực tiễn - sẽ giúp phản ánh đúng bản chất vấn đề của thị trường vàng dưới góc nhìn đa chiều và logic, qua đó chứng minh khái niệm “vàng ảo” là không có cơ sở.

Trường hợp 1: Vàng trên tài khoản không phải là vàng ảo 
Có lẽ do quá quen với cảnh mua bán vàng miếng ở Việt Nam (một cách thức giao dịch lâu đời, nhưng ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro), nên người ta dễ có khuynh hướng xem vàng không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình là “vàng ảo”. Lập luận này thiếu căn cứ do không dựa trên nền tảng về chuẩn mực hạch toán kế toán.
Lấy ví dụ về một doanh nghiệp Việt Nam (gọi tắt là “Bên A”) xuất khẩu 100 kg vàng vật chất cho người mua ở Thụy Sĩ (gọi tắt là “Bên B”). Sau khi nhận hàng và khấu trừ mọi chi phí phát sinh, Bên B sẽ ghi có số dư vàng vào tài khoản vàng (metal account) của Bên A mở trên sổ sách kế toán của Bên B.
Chi phí phát sinh do Bên A chịu bao gồm: (i) phí tinh luyện nếu lô hàng có hàm lượng dưới 99,99% (refining cost), (ii) phí giám định (assaying cost), và (iii) phí nghiệp vụ (handling cost). Để đơn giản hóa ví dụ, giả định tổng chi phí của lô hàng là 1 kg vàng.
Vậy, số lượng 100 kg vàng vật chất sẽ được chuyển hóa hình thái thành số dư 99 kg vàng tài khoản. Thị trường tài chính quốc tế gọi vàng tài khoản là “loco London gold” (loco: viết tắt của chữ location, nghĩa là địa điểm), tức vàng tinh chất 99,99% đạt tiêu chuẩn quốc tế có thể giao dịch tự do tại thị trường London (Anh).
Từ hình thái ban đầu là vàng vật chất có tính năng như hàng hóa (commodity) ẩn chứa nhiều chi phí và rủi ro trong giao dịch (như kiểm đếm, lưu kho, vận chuyển, bảo hiểm, an ninh, thất lạc, mất mát, nhân công…), nay vàng tài khoản trở thành một công cụ có tính thanh khoản cao (liquidity) với đầy đủ tính năng như tiền tệ (currency), có thể dễ dàng thực hiện nhiều nghiệp vụ như: (i) chuyển khoản vàng (gold transfer), (ii) gửi vàng (gold deposit), (iii) ký quỹ (gold margin), (iv) cho vay (gold lending), (v) thế chấp (gold collateral), và (vi) mua bán (gold trading)…
Trở lại ví dụ trên, sau khi Bên B báo có số dư vàng cho Bên A, lúc này số dư vàng hạch toán trên tài khoản cũng hoàn toàn tương tự như số dư tiền gửi hạch toán trên tài khoản. Nói cách khác, Bên A là chủ sở hữu số dư vàng, còn Bên B là người đang nợ số dư vàng đó.
Với tư cách là chủ sở hữu số dư vàng, Bên A có thể ra lệnh điều chuyển vàng sang nơi khác hoặc bán số dư vàng lấy USD. Với số dư USD này (giống như thu ngoại tệ hàng xuất), Bên A có thể tùy nghi sử dụng phù hợp với quy định quản lý ngoại hối hiện hành hoặc có thể bán USD lấy VND, mang VND gửi ngân hàng hoặc rút VND tiền mặt nộp quỹ công ty mình. 
Quy trình xuất khẩu vàng nói trên cho thấy bước khởi đầu là vàng thực và bước cuối cùng là tiền thực, dù tiền USD hay tiền VND. Vậy, với điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là thực, nếu xem vàng trên tài khoản là vàng ảo, liệu có thể chấp nhận cách lập luận thiếu thuyết phục rằng để có thể xuất khẩu vàng thực nhằm thu về ngoại tệ/nội tệ thực, phải trải qua một công đoạn “ảo hóa vàng” trước, rồi mới có thể “thực hóa tiền” sau? 
Xét một khía cạnh khác, với số dư vàng sẵn có trên tài khoản chưa sử dụng hết, nếu cần thanh khoản vàng vật chất trong nước, Bên A có thể yêu cầu Bên B chuyển vàng về Việt Nam thông qua nghiệp vụ hoán đổi vàng vật chất (physical gold swap). Theo đó, Bên A chốt giá bán cho Bên B số dư vàng tài khoản cụ thể, đồng thời chốt giá mua của Bên B số lượng vàng vật chất tương ứng. Giá bán vàng tài khoản và giá mua vàng vật chất trong trường hợp này là cùng một giá (tức Bên A không phải trả chênh lệch giá cho Bên B).
Tuy nhiên, để có thể sở hữu vàng vật chất, Bên A phải trả cho Bên B phí chuyển đổi hình thái từ vàng tài khoản sang vàng vật chất mà thuật ngữ tài chính gọi là phí nhận vàng vật chất (physical premium). Về bản chất, phí nhận vàng vật chất bao gồm: (i) phí chế tác, (ii) phí vận chuyển, và (iii) phí bảo hiểm.
Với tính năng chuyển đổi dễ dàng từ số dư vàng tài khoản thành số lượng vàng vật chất nói trên, không thể gọi vàng tài khoản là vàng ảo được. Nếu vàng trên tài khoản là ảo, thì tiền VND, tiền USD hoặc bất cứ loại tiền tệ nào khác trên tài khoản cũng ảo nốt.
Tới đây, ta thấy rõ tính chất chuyển hóa linh hoạt từ hình thái vàng tài khoản sang hình thái vàng vật chất và ngược lại, tương tự như sự chuyển hóa linh hoạt hai chiều từ tiền mặt thành tiền gửi ngân hàng. Tiền hay vàng nằm trên tài khoản cùng với tính thanh khoản và tính lưu thông thuận tiện của chúng là một phát minh vĩ đại của con người thông qua sự ghi chép sổ sách của hệ thống kế toán.
Tóm lại, trên các thị trường tài chính tiên tiến trên thế giới, vốn đã đi trước Việt Nam hàng trăm năm cũng không có khái niệm vàng ảo. Đôi khi người ta thay thế thuật ngữ “loco London gold” bằng từ ngắn gọn “paper gold”, tức vàng trên giấy tờ sổ sách.
Vì vậy, cần loại bỏ khái niệm “vàng ảo”, mà chỉ nên sử dụng khái niệm vàng tài khoản. Muốn sáng tạo ra một khái niệm mới trong kinh tế, phải hiểu rõ và phản ánh đúng bản chất vấn đề. Ngoài chữ vàng tài khoản ra, có thể sử dụng hai thuật ngữ khác để có thể thay thế như: (i) vàng ghi sổ, (ii) vàng bút tệ. 
Về bản chất các thuật ngữ này đều có nội hàm như nhau, và quan trọng hơn hết chúng đều là vàng thực, vì xuất phát điểm cốt lõi của chúng đều dựa trên một tài sản nền có thực (real underlying asset), đó là vàng vật chất có trong tự nhiên.
Trường hợp 2: Kinh doanh vàng ký quỹ không phải là ảo
Kinh doanh vàng dưới hình thức ký quỹ phi tập trung (gold margin trading) hoặc dưới hình thức ký quỹ tập trung tại Sàn vàng (gold trading exchange) có sử dụng đòn bẩy tài chính (financial leverage) là một trong những phương thức đầu tư vàng tiên tiến nhất trên thế giới thay cho cách mua bán vàng vật chất vốn ẩn chứa nhiều bất tiện và rủi ro. 
Lợi ích của kinh doanh vàng ký quỹ tập trung tại sàn là:
- Tạo cơ hội kinh doanh trong nước cho nhà đầu tư một cách minh bạch thay cho kinh doanh trên mạng quốc tế một cách lén lút.
- Không đòi hỏi nhiều vốn, chỉ yêu cầu thanh toán một khoản ký quỹ ban đầu (initial margin) thay vì 100% giá trị giao dịch.
- Xác định mức lỗ tối đa khi mở trạng thái.
- Tự quyết định mức giá đặt lệnh, và cơ chế khớp lệnh liên tục giúp gia tăng tính thanh khoản của thị trường.
- Việc thanh toán mua bán sẽ được thực hiện bằng cách ghi nợ/ghi có trên tài khoản, giúp giảm thiểu rủi ro tác nghiệp (sai sót trong kiểm đếm, giao nhận, thất lạc hoặc mất mát tiền/vàng), rủi ro thanh toán, rủi ro đối tác so với cách thức giao dịch vàng vật chất ngoài thị trường.
- Nhà nước dễ dàng đo lường quy mô giao dịch của thị trường và có thể áp dụng thu thuế đối với nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn khi cần thiết.
Vừa qua, có một số ý kiến cho rằng kinh doanh vàng ký quỹ với tỷ lệ ký quỹ ban đầu cao hơn 90% trên tổng quy mô trạng thái 100% mới là không “ảo”. Nếu tỷ lệ ký quỹ ở mức thấp 5% chẳng hạn, phần đòn bẩy tài chính 95% dưới hình thức cho vay được xem là “ảo”. Có thể tóm tắt ý chính của lập luận này là “ảo xảy ra khi tỷ lệ ký quỹ thấp và tỷ lệ cho vay cao”.
Trước tiên, có thể khẳng định ngay rằng kể cả khi mức tỷ lệ ký quỹ giảm xuống dưới 1% cũng không phải là ảo. Về bản chất, tỷ lệ ký quỹ chính là hạn mức chặn lỗ (slop loss limit) của nhà đầu tư. Nếu giá vàng biến động trái với kỳ vọng, nhà đầu tư chỉ lỗ đúng phần tiền đã ký quỹ, không phải lỗ toàn bộ 100% tổng quy mô trạng thái. Tỷ lệ ký quỹ dù ở mức độ nào cũng chỉ là thỏa thuận tự nguyện đã ghi trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị quản lý sàn.
Trước khi có công cụ kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn, nhà đầu tư đã thực hiện kinh doanh vàng truyền thống dưới hình thức vay nợ ngân hàng và thế chấp bằng tài sản hình thành từ nợ vay từ hàng chục năm qua.
Ví dụ, nhà đầu tư muốn đầu tư giá xuống, đến ngân hàng vay vàng, bán vàng cho ngân hàng lấy VND, dùng VND thế chấp tại ngân hàng với tỷ lệ giải ngân theo hạn mức tín dụng do ngân hàng quy định. Nếu ngân hàng duyệt cho vay 95%, nhà đầu tư phải chuẩn bị vốn tự có 5% mới có thể thực hiện giao dịch. Giả sử giá vàng giảm như dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua vàng trả nợ cộng lãi vay cho ngân hàng và hưởng lợi nhuận chênh lệch giá vàng. 
Về bản chất, cách thức kinh doanh vàng truyền thống và kinh doanh vàng ký quỹ trên sàn là hoàn toàn giống nhau. Vốn tự có 5% chính là tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư, tỷ lệ giải ngân 95% chính là đòn bẩy tài chính mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng. 
Nếu xem kinh doanh vàng với tỷ lệ ký quỹ thấp là “ảo” và giả sử nhà đầu tư nhận định đúng xu hướng giá và thu được lợi nhuận cụ thể, liệu phải giải thích như thế nào khi kinh doanh vàng “ảo” mà lại cho ra kết quả lãi “thực”? 
Nếu xem đòn bẩy tài chính 95% trong kinh doanh vàng ký quỹ là “ảo”, vậy tỷ lệ giải ngân 95% trong kinh doanh vàng truyền thống từ trước đến nay là “ảo” hết hay sao? 
Hơn 10 năm qua, phần lớn các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh và cho vay vàng theo cách truyền thống đều có lãi với số liệu hạch toán, kiểm toán minh bạch. Lãi này được phân bổ thành nhiều khoản mục, trong đó có thuế nộp ngân sách và cổ tức trả cho cổ đông. Chẳng lẽ các ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh vàng nộp ngân sách “ảo” và trả cổ tức “ảo”? 
Tất cả các trạng thái kinh doanh vàng ký quỹ khi chưa tất toán sẽ ở trong tình trạng lãi/lỗ tiềm năng (potential loss/profit), nhưng khi đã đóng toàn bộ trạng thái, kết quả chung cuộc sẽ là lãi/lỗ thực tế (realised loss/profit) hoặc hòa vốn (break-even), không có lãi/lỗ ảo ở đây. 
Tỷ lệ ký quỹ nhiều hay ít, cao hay thấp không liên quan gì đến khái niệm “ảo”. Điều cốt lõi cần thảo luận ở đây đó là để hạn chế tình trạng đầu tư quá mức trong hoạt động kinh doanh vàng ký quỹ, nên quy định chặt chẽ về: (i) mức tỷ lệ ký quỹ hợp lý, (ii) đối tượng khách hàng tham gia, (iii) quy mô tối đa của một giao dịch, (iv) quy mô tổng trạng thái tích lũy tối đa, (v) tổng dư nợ tín dụng tối đa, (vi) cách thức bảo hiểm rủi ro, và (vii) hình thức xử lý vi phạm. 
Trường hợp 3. Quy định “không được rút vàng, chỉ được rút VND” không phải là ảo
Có một vài nhận xét cho rằng nếu nhà đầu tư có trạng thái dương vàng trên sàn, nhưng không được rút vàng, mà chỉ được rút VND hoặc rút vàng trả phí, đó là kinh doanh vàng ảo.
Ngược lại, nếu nhà đầu tư được rút vàng bất cứ lúc nào, đó mới là không ảo. Nói ngắn gọn, theo lập luận này “ảo tức là không được rút vàng ra khỏi sàn”. 
Tới đây, cần nhấn mạnh một lần nữa rằng hình thái vàng tài khoản (hoặc vàng trên sàn) và hình thái vàng vật chất là hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau về hình thái này tất yếu dẫn đến chi phí vận hành và quản lý đối với chúng cũng khác nhau. Vì vậy, với số dư vàng trên sàn, muốn rút ra dưới dạng vật chất, chắc chắn sẽ phải trả một khoản phí, giống như “phí nhận vàng vật chất” như đã nêu trong trường hợp 1.
Có thể dẫn chứng một trường hợp tương tự về tiền mặt và tiền chuyển khoản. Một ngân hàng Việt Nam có số dư USD trên tài khoản nostro ở nước ngoài, muốn rút ngoại tệ tiền mặt phải trả phí cho ngân hàng nước ngoài. Cứ 1 USD chuyển khoản chỉ đổi được hơn 0,9 USD tiền mặt. 
Có một vài nguyên nhân chính về điều khoản “không cho rút vàng”:
- Chi phí lưu kho, bảo quản, vận chuyển… rất tốn kém.
- Tính thanh khoản đặc thù của vàng vật chất là rất kém so với tiền.
- Chính sách xuất nhập khẩu vàng chưa được tự do hóa, tức phải thông qua cơ chế cấp hạn ngạch (quota). Trong điều kiện đặc thù như thế, một khi chính sách chưa giải quyết quy luật cung-cầu vàng ở tầm vĩ mô, không có bên tham gia thị trường nào có thể tự xoay xở đầy đủ nguyên liệu vàng đầu vào để gia công, chế tác thành vàng vật chất cho nhà đầu tư.
Vào thời kỳ giữa những năm 1985, có trường hợp cá nhân và doanh nghiệp đã gửi tiền vào ngân hàng và không thể rút ra theo nhu cầu, nhưng không ai gọi đó là “tiền ảo”, vì người dân hiểu rằng trong từng điều kiện kinh tế đặc thù, việc điều hòa lưu lượng tiền mặt cho cả nền kinh tế đôi khi có những bất cập trong tác nghiệp. 
Tương tự như thế, sự “không-được-rút-ra” đối với vàng không phải là ảo. Điều khoản này phản ánh một thỏa thuận tự nguyện ghi rõ trong hợp đồng giữa nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn. Nếu thấy điều khoản này bất tiện, nhà đầu tư không nên ký hợp đồng. Nếu thực sự có nhu cầu sở hữu vàng vật chất, nhà đầu tư hoàn toàn có thể tìm đến cách thức giao dịch ngoài sàn như từ trước đến nay. Với điều khoản “không cho rút vàng”, chỉ có thể nói đơn vị tổ chức sàn có sự bất cập trong việc quản lý thanh khoản vàng vật chất.
Thậm chí trong tương lai nếu Nhà nước cho phép tự do hóa luồng dịch chuyển vàng ra vào (free inflows and outflows of gold) trong đó có tự do hóa xuất nhập khẩu vàng như Thái Lan chẳng hạn, mà các đơn vị kinh doanh vàng vẫn áp dụng điều khoản “không cho rút vàng”, điều đó vẫn không phải là ảo. 
Tóm lại, có thể kết luận rằng về bản chất các hình thức kinh doanh vàng đã nêu trong bài phân tích này đều là vàng thực, vì các nhà đầu tư đều kinh doanh trên một tài sản nền có thực.
Trong lúc trà dư tửu hậu ngoài xã hội, có thể nói vui “trong thực có hư, trong hư có thực, thực thực hư hư, hư hư thực thực”. Tuy nhiên, trong kinh doanh và quản lý kinh tế, không thể dung nạp các khái niệm nước đôi theo kiểu “vừa thực, vừa ảo” đan xen lẫn lộn.
Vì vậy:
- “Vàng tài khoản” không phải là ảo, vì đó là một hình thái thể hiện của vàng được ghi chép theo đúng bản chất của sổ sách kế toán.
- “Tỷ lệ ký quỹ thấp” không phải là ảo, vì đó là phần rủi ro tối đa mà nhà đầu tư đã xác định, đối ứng với hạn mức tín dụng mà ngân hàng xét duyệt.
- Điều khoản “không được rút vàng” không phải là ảo, vì điều đó vừa thể hiện một thỏa thuận tự nguyện giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng, vừa phản ánh đúng bản chất về tính thanh khoản kém của thị trường vàng trong nước, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế khách quan.
Muốn viết đúng về thị trường vàng, việc trang bị kiến thức cơ bản và cơ sở lý luận là điều cần thiết. Để quản lý và phát triển thị trường vàng một cách minh bạch và hiệu quả, nên tiếp nhận nhiều ý kiến phản biện đa chiều được tích lũy từ những kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời đối chiếu với các loại sản phẩm/dịch vụ tiên tiến về vàng trên thế giới mà ta chưa áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đồng bộ để từng bước tiến tới việc thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển của thị trường vàng trong nước so với khu vực, phù hợp với xu thế mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng. 
Không có con đường tắt nào vạch sẵn ở phía trước. 
Kinh doanh trong thị trường Forex

18/11/2011

Description: http://4.bp.blogspot.com/-GjypukCZ38U/TsXXAStJjoI/AAAAAAAACy8/3L-qyrCgqfw/s400/forex.jpg

 

Trong thị trường ngoại hối, công việc của bạn là mua bán ngoại tệ. Công việc được thực hiện rất đơn giản và thuận tiện hơn nhiều so với giao dịch chứng khóan; và nếu bạn có kinh nghiệm về chứng khoán thì bạn càng dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu thị trường này.

 

 

Mục tiêu của việc giao dịch ngoại hối là trao đổi 1 loại tiền tệ này với 1 loại tiền tệ khác với mong muốn tỉ giá giữa cặp tiền này sẽ thay đổi và giá trị đồng tiền bạn bán ra sẽ có giá hơn so với lúc mua vào.

 

Một ví dụ cụ thể: Bạn mua EUR và mong đợi lợi nhuận

 

 

Description: http://2.bp.blogspot.com/-dFlRTgOD4OE/TsXYHSUOIbI/AAAAAAAACzU/D4mr9pqH3MY/s640/kinhdoan                <span class=